Tuesday, March 25, 2008

Chien Tranh Bi Mat

Chien Tranh Bi Mat

Nha Kỹ Thuật -Tổng Tham Mưu

Trận Chiến Bí Mật -NKT/TTM

TRẬN CHIẾN BÍ-MẬT

Mục-Lục

Trận chiến bí mật (Lời giới thiệu). Trang 4

Chiến tranh ngoại lệ (bài 1- 9). 10

Biệt-kích quân 63

Ngày trở về (phần 1) 69

Ngày trở về (phần 2) 73

Lực-Lượng Đặc-Biệt trên chiến trường Việt-Nam. 76

Giới thiệu Nha-Kỹ-Thuật / TTM. 96

Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 1). 99

Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 2). 103

Kế hoạch 34-A Tâm-lý chiến. 108

Kế-hoạch 35 (Oplan 35) Vượt-biên. 112

Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải. 126

Kế hoạch 39 (Oplan 39) Chiến tranh tâm-lý. 131

Hành quân Shining Brass. (Xâm nhập vượt biên qua Lào) 135

Hành-quân Prairie Fire (Xâm nhập Lào). 143

Khe-Sanh. (Xâm nhập vùng Khe-Sanh). 148

Hành-quân Daniel Boone. (Xâm nhập qua Miên). 153

Hành-quân Salem House. (Xâm nhập qua Miên). 161

Hành-quân biệt-kích năm khói lửa 1968. 168

Nhẩy dù xâm-nhập (HALO). 181

Đơn-vị đặc-nhiệm 957 Du-Kích Lưu-Động.

(Mobile Guerilla Forces). 189

Đại-đội xung-kích Hatchet Forces. 195

Hành-quân biệt-kích. 202

Mật-hiệu Bright Light. (Cứu tù-binh, con tin). 211

Hành-quân biệt-kích cứu tù-binh. 215

Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) chiến-đấu trong cô-đơn. 224

Trận chiến bí-mật - Nhìn lại. 230

Biệt kích quân Việt-Nam đòi quyền tỵ-nạn. 233

Phụ-bản về đơn vị Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát, Nha-Kỹ-

Thuật TTM/QLVNCH. (1-10) 237



Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với

danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-

Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ

vào hàng lính Biệt-Kích thuộcbinh-chủng Lực-Lượng Đặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng

Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranhĐông-Dương.

Cả hai đơn-vị NKT và LLĐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức

riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổchức của LLĐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC,

CCS - Command & Control North, Central, South) tươngđương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C'

(C1, C2, C3, C4) của LLĐB.

Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB - Forward Operation Base) tương-đương

với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A'

biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG - The Secret Wars of America's

Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster.

Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc

Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một

thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hảicảng Hải-Phòng một cáchêm-thấm. Đêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnhQuảng-Đông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào

của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng-

Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vàomiền Bắc. Điệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn.

Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia chấp

thuận cho cơ-quan CIA xửdụng quân Biệt-Kích Mũ-Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam



trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Đặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt-Kích quân Việt-Nam thuộcLiên-Đoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí-Minh. Trong năm 1961-1962,Liên-Đoàn 1 Quan-Sát tổ

chức 41 cuộc hành-quân viễnthám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào.

Trong khi đó, ngoài Đà-Nẵng, toán người-nhái Hoa-Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt-Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải-Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.

Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩydù, đánh morse và mưu-sinh.

Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.

Đến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.

Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có co hoi để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùmbeng vụ đem xét-xử ba ngườisống sót trong toán Atlas. Ít

lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích.

Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Đông-Nam-Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi

thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao.

Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôidưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu.

Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ-Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.Đơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLĐB, Người Nhái,

Không-Đoàn Cảm-Tử (AirCommando). Đơn vị mới này lấy tên là SOG (SpecialOperation Group) Liên-ĐoànHành-Quân Đặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) ĐoànNghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.

Đơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong NgũGiác-Đài và thường nhận lệnhtừ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của

SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta,trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Đệ-Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam.

SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Điện, Quảng-Đông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ.

Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-LượngĐặc-Biệt trong thập niên 50.Đại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đóchỉ-huy Liên-Đoàn 10 LLĐBbên Âu-châu, sau đó là Liên-Đoàn 7 LLĐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina.

Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của Liên-Đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâmnhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý

chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điệnthoại để nghe lén. Đồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu chođơn vị SOG và LLĐB.

CIA bàn giao thêm cho SOGmột phi đội C-123 từ Đài-Loan do các phi-công Đài-Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Đệ Nhất gồm bốn chiếc C123. Mỗi chiếc có một phihành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miềnNam, các phi-công Đài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi côngĐài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước

Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long-Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhânviên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhânviên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon.

Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây.

Để yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo

người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực-Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy. Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộtrưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chươngtrình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt-Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất

cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'.Đầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ

đèo Mụ-Già qua phần đất Ai-Lao, hệ thống đường mòn HồChí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG cómột cấp chỉ huy mới là Đại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-LượngĐặc-Biệt.

Theo tài liệu:

SOG The Secret Wars Of

America's Commandos in

Vietnam, John L. Plaster.

Dallas 20-11-1999

VĐH

Năm 1957, chính quyền Eisenhower tài trợ cho một chương trình bí-mật. Phốihợp giữa cơ quan Trung-Ương Tình-báo CIA và bộ Quốc-Phòng Hoa-Kỳ giúp đỡ việc thành-lập một đơn-vị Lực-Lượng Đặc-Biệt cho Nam Việt-Nam. Đơn-vị này tên là Liên-Đoàn Quan-Sát số 1, âm-thầm xâm-nhập vào hàng ngũ quân

du-kích cộng-sản.Để bảo mật, Liên-Đoàn Quan-Sát số 1 do một ban tình báo trong bộ quốc phòng, ban

Nghiên-Cứu điều hành. Ban này có hai thay đổi, thứ nhất đổi tên là Phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống, dưới sự theo dõi trực tiếp của tổng-thống Diệm. Thứ hai, trung-tá Lê-Quang-Tung được chỉ định làm trưởng phòng Liên-Lạc.

Năm 1958, cơ-quan CIA tại Saigon, thành lập ban ngoại-vụ để làm việc với phòng Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống. Trưởng ban là Russell Miller dưới danh hiệu ngoại-giao, ông ta để ý trung-tá Tung chọn mười hai nhân viên cho đơn vị mới. Mười một sĩ quan trẻ thiếu-úy hoặc trung-úy, dưới quyền đại-úy Ngô-Thế-

Linh, người đã làm việc 5 nămngoài Đà-Nẵng.

No comments: